Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn KIỀU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KIỀU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2024

THÚY KIỀU - TỪ HẢI !

*/Đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du ta thấy Thúy Kiều có một mối tình lãng mạn với Kim Trọng, đó là mối tình của :“Người quốc sắc, kẻ thiên tài”.Thúy Kiều còn một mối tình khác với Thúc Sinh, đó là mối tình mà hai bên luôn“thấu hiểu” nhau. Nhưng thật tiếc, cả hai mối tình đó đều không có thúc kết trọn vẹn nên mang lại cho nàng Kiều nhiều nỗi niềm khắc khoải...

Có bài viết của một tác giả (không nhớ tên) trên net cho rằng Thúy Kiều có tất cả sáu người chồng: Mã Giám Sinh; Thúc Sinh; Bạc Hạnh; Từ Hải; Thổ quan và Kim Trọng. (vấn đề Kiều có mấy chồng còn có nhiều tranh luận nhưng mình không đủ trình để viết- ahuhu).Theo tác giả của bài viết thì trong đó Mã Giám Sinh; Bạc Hạnh và Thổ quan là buộc phải lấy. Còn Thúc Sinh thì vừa là ân nhân và cũng là người Kiều yêu thương sau Kim Trọng, hai người có thời gian chung sống khá hạnh phúc. (thực tế thì Kiều là vợ lẽ của Kim Trọng nhưng chưa chính thức được chấp nhận do Thúc Sinh quá nhu nhược và sợ vợ). Còn Kim Trọng là người yêu đầu và là người chồng cuối của Kiều trên danh nghĩa vì trước sức ép của gia đình mà phải “tái hợp”, thực tế thì hai người “thỏa thuận" chỉ coi nhau là bạn: “Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ” ; “ Chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ”.

                                                   

Trong 15 năm lênh đênh, lưu lạc, Thúy Kiều chỉ có một cuộc hôn nhân chính thức (nhưng ngắn ngủi) với Từ Hải, đó là thời gian Kiều hạnh phúc nhất. Nhưng cái kết của cuộc hôn nhân này cũng không có hậu vì Từ Hải dù là một anh hùng chọc trời khuấy nước nhưng lại lụy tình, nghe lời Kiều mà quy hàng triều đình nên bị Hồ Tôn Hiến hại đến chết đứng nơi trận tiền.

Chúng ta cùng tìm hiểu từ đầu về mối quan hệ của hai nhân vật này:

+ Từ Hải là người:“Đường đường một đấng anh hào/ Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.”

Chuyện tình của Thúy Kiều và Từ Hải không lãng mạn như với Kim Trọng vì Từ Hải gặp Kiều khi nàng đang ở lầu xanh, dù vậy, khi mới gặp nhau lần đầu, chỉ liếc qua thôi mà hai bên đã "ưa" nhau: “Thiếp danh đưa đến lầu hồng/Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa”.

Trong phút đầu tiên gặp gỡ Thúy Kiều ấy, Từ Hải đã bộc lộ mình là một con người đặc biệt là đi tìm tình yêu, đi tìm tri kỷ ở …chốn lầu xanh :

"Từ rằng : "Tâm phúc tương cờ,

Phải người trăng gió vật vờ hay sao ?

Bấy lâu nghe tiếng má đào,

Mắt xanh chẳng để ai vào có không?

Một đời được mấy anh hùng,

Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi !”

Nhìn dáng vẻ bên ngoài của Từ Hải:“ Râu hùm, hàm én, mày ngài/ vai năm tấc rộng thân mười thước cao ”,Thúy Kiều thấy được chở che nên đồng ý: "Thưa rằng : Lượng cả bao dong/Tấn dương được thấy mây rồng có phen”.

Từ Hải tuy là một trang hảo hán nhưng cũng rất đa tình, đang đi tìm “tri kỷ” mà nghe Kiều nói thật lòng như vậy lại muốn gửi gắm mình vào sự chở che của Từ Hải: "Rộng thương cỏ nội, hoa hèn / Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau” nên Từ Hải xác định hai người sẽ gắn bó với nhau. 

Còn Thúy Kiều sau khi gặp Từ Hải thì từ một cô gái lầu xanh trở thành một gái thuyền quyên (gái đẹp, thanh lịch). Với Kiều, cuộc tình duyên này là một sự đổi đời: hạnh phúc gắn liền với tự do, được thoát khỏi thân phận gái lầu xanh, trở thành một mệnh phụ phu nhân, có dịp báo ân, báo oán và điều Kiều hy vọng nhất trong cuộc hôn nhân này là được trở về cố hương, gặp lại cha, mẹ và các em.

 Nhìn nhận một cách khách quan thì cuộc tình giữa Kiều với Từ Hải tuy thực dụng (từ phía Kiều) nhưng cũng mang đậm màu sắc lãng mạn vì họ thật sự đẹp đôi:

“Trai anh hùng, gái thuyền quyên/Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.”

 + Từ Hải sau khi gặp và nói chuyện với Kiều đã xem Kiều là người tri kỷ nên chàng chấp nhận Kiều mà không đắn đo:

“Nghe lời vừa ý, gật đầu,

Cười rằng : “Tri kỷ trước sau mấy người ?

Khen cho con mắt tinh đời,

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già !

Một lời đã biết đến ta,

Muôn chung, nghìn tứ, cũng là có nhau !”

Từ Hải cũng không ngại ngần trước sự ngưỡng mộ của“người đẹp” nên đã kiêu hãnh thốt lên: “Khen cho con mắt tinh đời/ anh hùng đoán giữa trần ai mới già” . Sau đó Từ Hải đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh: "Ngỏ lời nói với băng nhân/ Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn ", rồi lấy Kiều làm vợ mà không cần đắn đo, suy nghĩ nhiều.       

                            
                                        (hình minh họa lấy trên net)

+ Sau khi lấy Kiều về làm vợ, Từ Hải từ chỗ: “giang hồ quen thói vẫy vùng” đã thực sự  hạnh phúc bên vợ đẹp :“Buồng riêng giữa chốn thanh nhàn/Đặt giường thất bảo, vây màn bát tiên”. Còn Thúy Kiều thì được hưởng hạnh phúc vợ chồng như bao người phụ nữ khác, đó cũng là mơ ước của nàng.

Đang trong cảnh dạt dào hạnh phúc (Kiều đã nhờ ơn của Từ Hải mà có màn “đền ơn, báo oán” rất đình đám). Tuy nhiên hạnh phúc đó và tình yêu của Thúy Kiều cũng không thể giữ chân Từ Hải vì chàng vốn là người: "dọc ngang nào biết trên đầu có ai", không chịu được cuộc sống quá êm đềm nên Từ Hải đã gác tình riêng, dứt áo ra đi làm nghiệp lớn: 

" Nửa năm hương lửa đương nồng,

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Trông vời trời bể mênh mông,

Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong".

Từ Hải là một đấng trượng phu và là người "nghênh ngang một cõi biên thuỳ" nên chàng hành xử mọi vấn đề của cuộc sống theo cách riêng của chàng là kiểu: không thể vì vợ mà cản được bước chân chinh chiến.

                                  

                                                              (hình minh họa lấy trên net)

+ Khi nghe Từ Hải sẽ ra đi, Kiều thương chồng và thương chính mình nên nàng đề nghị:

                   "Nàng rằng: Phận gái chữ tòng /Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi"

Nghe Kiều nói vậy, Từ Hải lại cho rằng khi đã là vợ chồng, là tri kỷ của nhau rồi thì Kiều phải vượt qua được tình cảm của một người vợ bình thường:

             "Từ rằng: tâm phúc tương tri / Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình".

 Và Từ Hải đã tự tin nói về tương lai, hứa với Kiều khi có vinh hoa phú quý, sẽ trở về đón nàng :

"Bao giờ mười vạn tinh binh, 

Tiếng chuông dậy đất bóng tinh rợp đường.

Làm cho rõ mặt phi thường,

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghinh gia".

Từ Hải cũng đã cảm thông cho hoàn cảnh ly hương, thương cha, nhớ mẹ của Kiều nên chàng cũng hứa có điều kiện là giúp Kiều thực hiện nguyện vọng:

 “Xót nàng còn chút song thân,

 Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa.

Sao cho muôn dặm một nhà,

Cho người thấy mặt là ta cam lòng”.

 +Từ Hải là một người luôn quan tâm, lo lắng, yêu thương và nghĩ cho vợ :

"Bằng nay bốn bể không nhà,

Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?

Đành lòng chờ đó ít lâu,

Chầy chăng là một năm sau vội gì".

Những câu thơ trên là một lời tâm sự, là sự lo lắng của chồng đối với vợ trước lúc đi xa, nơi đó không nhà, không cửa nên: “Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?”

 Chàng không muốn cho Kiều đi theo vì: thứ nhất việc gây dựng sự nghiệp của chàng là lâu dài, không phải ngày một, ngày hai nên chàng sẽ không chăm lo được cho vợ. Thứ hai là Từ Hải biết rõ con đường mình đi không phải chỗ dành cho phụ nữ, chàng không muốn vợ mình phải chịu khổ cực, vất vả. Mặt khác,Từ Hải cũng không muốn chuyện tình cảm vợ chồng ảnh hưởng tới sự nghiệp, còn việc bản thân chàng phải ra đi vì đó là lý tưởng của chàng. Tình yêu thương của Từ Hải đối với Kiều là tha thiết, mặn nồng nhưng không ủy mị, đắm đuối. (kiểu thương thì thương mà đi là đi)hi!hi:

"Quyết lời dứt áo ra đi / Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi".

+ Kiều đã thương nhớ Từ Hải trong những ngày đợi chờ:

“Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,/ Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”.

... Khi Hồ Tôn Hiến (quan đại thần của triều đình) chiêu hàng, Từ Hải băn khoăn vì đầu hàng có nghĩa là phải buộc mình vào một cuộc sống gò bó, từ bỏ cuộc sống ngang tàng vốn có của mình:

"... Sao bằng riêng một biên thùy,

Sức này đã dễ làm gì được nhau !

Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu,

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai !"

+ Nhưng chính Kiều lại là người khuyên Từ Hải buông gươm đầu hàng về với Triều đình vì theo Kiều: Từ Hải quy thuận triều đình thì việc công , tư đều tốt đẹp. Việc công là việc đất nước khỏi nạn binh đao, vua thêm tôi giỏi. Việc tư là việc Từ Hải được làm bề tôi triều đình, được vua ban chức tước, gia đình sẽ được vinh hiển và điều quan  trọng nhất là Kiều được tự do trở về cố hương gặp cha, mẹ, gia đình :

“Nhân khi bàn bạc gần xa 

Thừa cơ nàng mới bàn ra nói vào.

Rằng: “Ơn thánh trạch dồi dào

 Tưới ra đã khắp thấm vào đã sâu

….. 
 Sao bằng lộc trọng quyền cao

 Công danh ai dứt lối nào cho qua?

 Nghe lời nàng nói mặn mà

 Thế công Từ mới trở ra thế hàng”. 

+ Hồ Tôn Hiến  xét thấy kế chiêu an, dụ hàng với Từ Hải là không có tác dụng nên đã dụ Thúy Kiều: “Nàng thời một dạ tin người/ Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu” 

Nghe Kiều khuyên Từ Hải nên quy hàng triều đình:“Trên vì nước, dưới vì nhà / Một là đắc hiếu hai là đắc trung”, thấy hợp lý, Từ Hải đã :“Việc binh bỏ chẳng giữ giàng” nên bị Hồ Tôn Hiến đánh úp rồi gi.ết ch.ết.

+Từ Hải ch.ết không phải vì chàng mắc mưu Hồ Tôn Hiến mà chính vì chàng đã quá tin và yêu thương Thúy Kiều nên đã sa cơ thất thế, ch.ết đứng giữa trận tiền:

"Đương khi bất ý chẳng ngờ,

Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!

Tử sinh liều giữa trận tiền,

Dạn dày cho biết gan liền tướng quân.

Khí thiêng khi đã về thần,

Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.

trơ như đá vững như đồng,

Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời”  (câu 2515 đến 2522)

Từ Hải ch.ết "đứng" và chàng chỉ ngã xuống khi nghe được nỗi niềm tha thiết, hối hận của Thúy Kiều:

 “Khóc rằng: “ Trí dũng có thừa,

Bởi nghe lời thiếp, đến cơ hội này !

Mặt nào trông thấy nhau đây ?

Thà liều sống chết một ngày với nhau !”

Dòng thu như xối cơn sầu,

Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.

Lạ thay oan khí tương triền,

Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra !"

Từ Hải đã ch.ết vì Thúy Kiều và chỉ ch.ết vì nàng mà thôi. Còn Thúy Kiều thì chỉ vì nghe lời “ngon, ngọt” của Hồ Tôn Hiến mà đã đánh mất tất cả: mất tình yêu, mất chồng, mất ân nhân, mất tri kỷ và điều đặc biết nhất là mất đi cơ hội được trở về cố hương với cha, mẹ, với gia đình. Vì vậy, đây chính là nỗi niềm, là sự ân hận, sự tiếc nuối và đau đớn, khổ tâm nhất của Kiều trong thời gian mười lăm năm lưu lạc. 

Sau khi Từ Hải ch.ết, Hồ Tôn Hiến đã buộc Kiều lấy chồng khác: " Lệnh quan ai dám cãi lời/ép tình mới gán cho người thổ quan".

Trong hoàn cảnh trớ trêu ấy, Kiều đã than rằng:

"Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời ?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông.

 Trông vời con nước mênh mông,

Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang "
Dù được cứu sống nhưng thật tiếc là Kiều đã đánh mất hạnh phúc của đời mình./.

     (P/s: các nguồn để viết và hình ảnh trong bài đều lấy trên net có biên tập lại)                             
                        
                                
                                        

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2024

THÚY VÂN !

+ Ai đã từng đọc, nghe truyện Kiều thì không thể không biết Thúy Vân, nàng chính là em của Thúy Kiều (Đầu lòng hai ả Tố Nga/ Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân), chị của Vương Quan và là vợ của Kim Trọng (người yêu của Thúy Kiều). 

  Trong truyện Kiều, Thúy Vân là nhân vật phụ, là cái bóng mờ nhạt bên cạnh người chị gái tài sắc, vẹn toàn. Khi tả về Thúy Kiều, Nguyễn Du để cho Kiều được bộc lộ vẻ đẹp hơn người và khi gặp cảnh trái ngang cũng cho nàng được quyền giãi bày, được nói hết tâm tư, tình cảm của mình, bởi vậy mọi người dành hết lời khen, sự thương cảm cho Kiều.

 Còn Thúy Vân thì không được như vậy vì nàng chỉ "làm nền" cho Thúy Kiều nổi bật, khi tìm hiểu về nhân vật Thúy Vân ta mới thấy cuộc đời nàng tuy yên ả, không sóng gió, chìm nổi, lênh đênh như Kiều nhưng đời nàng có nhiều bi kịch hơn là hạnh phúc.

                          “Kiều ơi em đợi kiếp nào để yêu !”

1/Về vẻ đẹp của Thúy Vân được Nguyễn Du tả rất ấn tượng:

“Vân xem trang trọng khác vời.

 Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc, tuyết hờn màu da”.

Thúy Vân đẹp là vậy nhưng nàng vẫn thua chị gái cả về sắc và tài:

 “Kiều càng sắc sảo mặn mà,

  so bề tài sắc lại là phần hơn.”

 …

“Thông minh vốn sẵn tính trời

  Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

  Cung thương làu bậc ngũ âm,

  Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương."

2/Khi gia đình họ Vương đang sống trong cảnh bình yên:“Êm đềm tướng rủ màn che/Tường đông ong bướm đi về mặc ai” thì gặp cơn gia biến, Thúy Kiều đã không tiếc thân mình, từ bỏ chữ tình, bán mình chuộc cha cho tròn chữ hiếu. Trong cảnh như vậy, Thúy Vân chắc chắn có nhiều suy nghĩ. Khi thấy chị phải bán mình cứu gia đình, nàng cảm thấy áy náy:“Cơ trời dâu bể đa đoan/Một nhà để chị riêng oan một mình”,nàng rất muốn làm một điều gì đó để trả ơn chị gái. Nghĩ vậy nên khi Kiều:"Hở môi thì cũng thẹn thùng/Để lòng thì lại phụ lòng với ai", nói với Vân:“Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”, là khi Kiều muốn trao duyên, gửi mối tình đầu của mình với Kim Trọng cho Thúy Vân thì nàng không dám chối từ mà lặng im ngồi nghe chị giãi bày và giữ lại trong lòng mình lời muốn nói với chị là : nàng không yêu Kim Trọng.

                                        

...Thương chị phải bán mình cứu gia đình, đó là sự hy sinh cao cả không gì có thể sánh bằng thì việc nàng: lấy người yêu chị làm chồng, dù gì thì cũng quá nhỏ bé nên nàng không thể (không có cơ hội) để nói tâm tư của mình.Trong khi Thúy Kiều được quyền khóc khi chia tay tình đầu thì ngược lại Vân im lặng mà nếu được khóc thì hẳn nước mắt của Vân không dành cho Kim Trọng. Trong sâu thẳm trái tim mình, nàng cũng có những khát khao của tuổi thanh xuân, nội tâm nàng cũng giằng xé, đau đớn không thua gì chị mình...

3/Nếu như Kiều phải chịu nhiều cay đắng, ê chề trong suốt 15 năm lưu lạc (thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần) đến nỗi phải nhảy xuống sông Tiền Đường để giải thoát (may được cứu sống). Nhưng dù ở tận cùng của sự đau khổ, Kiều cũng đã được hưởng niềm hạnh phúc ngọt ngào của mối đầu với Kim Trọng. Rồi sau đó dù chìm nổi ba đào Kiều vẫn có những tháng ngày hạnh phúc bên Thúc Sinh và mặn nồng tình chồng vợ bên Từ Hải. Hai mối tình sau này tuy mang nhiều ân nghĩa, không say mê như tình đầu :Thúc Sinh yêu Kiều thật sự nhưng chỉ vì sợ vợ và nhu nhược nên hai người phải chia tay trong ê chề bởi sự ghen tuông của Hoạn Thư. Còn Từ Hải không những yêu thương Kiều mà còn cho Kiều những tháng ngày làm vợ hạnh phúc, giúp Kiều được ân đền , oán trả: “Cùng nhau trông mặt cả cười/ dang tay về chốn chướng mai tự tình”. Những hạnh phúc đó của Kiều là “sờ, nắm” được, không phải hạnh phúc giả tạo.

Còn Vân thì sao? Kể từ khi :“ Gặp cơn binh địa ba đào/ lại đem tình chị buộc vào duyên em” thì coi như hạnh phúc lứa đôi của Thúy Vân chấm hết từ đây.                  

Thúy Vân không trách Kiều đã buộc mình vào mối duyên oan nghiệt với Kim Trọng mà nếu có trách thì trách Kiều đã quên nàng cũng là một người con gái có trái tim biết yêu và khao khát được yêu như chị. Vì muốn chị được yên lòng trước khi rời gia đình mà Vân đành phải chấp nhận thay chị thực hiện lời hẹn ước, lấy Kim Trọng làm chồng và nàng đã chôn chặt cõi lòng mình. Hẳn có lúc Thúy Vân đã thầm ước, được yêu say đắm như chị để rồi có phải trả giá bằng mười lăm năm đoạn trường hẳn nàng cũng cam lòng!

Thúy Vân khao khát được yêu, nhưng không thể từ chối đề nghị của chị (lấy Kim Trọng làm chồng), làm sao nàng có thể từ chối điều đó khi chị nàng phải bán thân mình vì chữ hiếu mà phải bỏ chữ tình. Vậy cớ gì nàng lại không thể bỏ chữ tình để làm tròn chữ nghĩa với chị,  vậy nên nàng dấu kín nỗi niềm của mình. Xét ra, sự im lặng đó của nàng cũng là một sự hy sinh, không thua gì sự hy sinh của Kiều cho gia đình.

…Trong Mười lăm năm lưu lạc, Kiều chịu nhiều ê chề, đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần thì mười lăm năm đó Vân chung sống với Kim Trọng. Thử hỏi nàng có khi nào được hạnh phúc như chị mình khi sống với Thúc Sinh hay Từ Hải không ?

 + Về phần Kim Trọng, mười lăm năm trước, khi nghe tin Kiều phải bán mình chuộc cha, chàng đã từng đau đớn, xót thương đến độ :

“Vật mình vẫy gió tuôn mưa,

 Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai.

 Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,

 Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê”

 Hay :

 “Ruột tằm ngày một héo hon,

 Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.

 Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê,

Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”.

+ Thời gian đầu khi mới cưới Thúy Vân làm vợ, Kim Trọng vẫn chưa lúc nào thôi nhung nhớ Kiều:

  “Tuy rằng vui chữ vu quy.

  Vui này đã cất sầu kia được nào!

  Khi ăn ở lúc ra vào,

 Càng âu duyên mới càng dào tình xưa.

 Nỗi nàng nhớ đến bao giờ,

Tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng.

Có khi vắng vẻ thư phòng,

Đốt lò hương, giở phím đồng ngày xưa.

Bẻ bai, rủ rỉ tiếng tơ,

Trầm bay nhạt khói, gió đưa lay rèm

Dường như bên chái, trước thềm,

Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng.

Bởi lòng tạc đá ghi vàng,

Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây”. (từ câu 2843 đến câu 2856)

 + Còn trong mười lăm năm làm chồng Thúy Vân, trái tim của chàng Kim chưa hề một lần dành cho nàng,  chưa bao giờ Kim Trọng tỏ ra quan tâm hay chung thủy với vợ mà luôn nghĩ về mối tình đầu với Kiều: “Vui là vui gượng kẻo là/ Ai tri âm đó mặn mà với ai” hay: “Những là rày ước mai ao/Mười lăm năm ấy biết bào nhiều tình!”

Nhìn chung thì cuộc đời Kiều thật bất hạnh nhưng xét ra nàng đã có được mối tình đầu với Kim Trọng rất đẹp, còn về sau lại có thêm tình yêu của Thúc Sinh và Từ Hải. Còn Thúy Vân, nàng chưa hề được yêu, nàng chưa một lần được chạm đến cảm xúc của tình yêu.

   “… Gặp cơn binh địa ba đào,

Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.

        Cũng là phận cải, duyên kim ,

 Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao.”

Mặt khác, Kiều dù đã trao duyên cho em nhưng vẫn không thể dứt tình với người yêu: "Chiếc thoa với bức tờ mây/Duyên này thì giữ vật này của chung". (đây là những kỷ vật mà Kim Trọng trao cho Thúy Kiều để làm tin khi hai người hẹn ước, khi giao lại cho Vân rồi Kiều vẫn muốn đó là của chung??). Dù tự nguyện trao kỷ vật cho em nhưng nàng không thanh thản vì tim nàng vẫn giữ  chặt lấy tình yêu đó, nàng mong sau này Kim Trọng và em gái dù là vợ chồng cũng đừng quên nàng. Cứ như vậy thì hỏi sao Thúy Vân có thể sống hạnh phúc với Kim Trọng được :

” Mất người còn chút của tin

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy xe tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Gió hiu hiu thổi thì hay chị về.

Hồn còn mang nặng lời thề.

Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rảy xin chén nước cho người thác oan.”

Trong hoàn cảnh trớ trêu như vậy, Thúy Vân cũng không thể buông lời trách chị hay trách chồng mình, nàng im lặng chịu đựng. Đó chính là nỗi niềm, là bi kịch của Thúy Vân.

3/Ngày Thúy Kiều được trở về đoàn viên cùng gia đình, trước những gì mà chị mình đã phải trải qua trong mười lăm lưu lạc ấy, Thúy Vân lại một lần nữa hy sinh hạnh phúc riêng của mình (dù đó là hạnh phúc mong manh, hờ hững) nhưng đó lại là thứ hạnh phúc duy nhất nàng đang có để đem “trả’ chồng mình cho chị. Nàng nói với chị mà như nói với chính mình:

“Bây giờ gương vỡ lại lành,

Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.

Còn duyên may lại còn người,

Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa.

Quả mai ba bảy đương vừa,

Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì”.

Việc đề nghị "trả" chồng cho chị của Thúy Vân là một bi kịch nữa trong đời nàng!

4/ Viết đầy đủ về bi kịch của cuộc đời Thúy Vân thì nhà Thơ Trương Nam Hương có bài thơ “Tâm Sự nàng Thúy Vân” đầy cảm xúc, lột tả hết tâm tư của Thúy Vân, nói hết được hoàn cảnh éo le của nàng đó là  :“tình chị duyên em”.

 (Bài thơ này mình rất thích và đã từng chép lại trong bài viết cùng tên đăng năm 2020):

“Nghĩ thương lời chị dặn dò

Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh

Chị yêu lệ chảy đã đành,

Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim. 

 

Ơ kìa! Sao chị ngồi im

Máu còn biết chảy về tim để hồng

Lấy người yêu chị làm chồng

Đời em thể thắt một vòng oan khiên. 

Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên

Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn.

Mấp mô số phận vuông tròn

Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu

 

Là em nói vậy thôi Kiều

Sánh sao đời chị ba chiều bão giông

Con đò đời chị về không,

Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường.

 

Chị nhiều hờn giận yêu thương,

Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò.

Em chưa được thế bao giờ,

Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim.

 

Em thành vợ của chàng Kim,

Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao.

Giấu đầy đêm nỗi khát khao

Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?”.

            Một vài ý kiến phân tích bài thơ :

… “Với Thúy Kiều, sau mười lăm năm cạn chén đoạn trường, mười lăm năm trầm luân, đau khổ, đọa đầy thân xác, nay nàng trở về đoàn tụ với tình đầu với gia đình, còn Thúy Vân thì đó lại là mười lăm năm vì thương chị nên đánh đắm con đò hạnh phúc của mình giữa dòng đời mà không ai thấu hiểu. Tuổi xuân trôi đi, nhạt nhòa trong nước mắt,  mười lăm năm “Con đò xuân xanh” của Vân trôi đi trong vô vọng có chồng mà không có tình yêu : “Lấy người yêu chị làm chồng/Đời em thể thắt một vòng oan khiên” . Thật là một cuộc hôn nhân oan trái :”lấy người yêu chị làm chồng”

+ Kiều có đau thương nhưng cũng có những giờ phút yêu và được yêu kể cả được vinh hiển, tỏa sáng. Còn Thúy Vân thì không:

"Chị nhiều hờn giận, yêu thương

Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò

Em chưa được thế bao giờ

Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim”.

+ Những câu thơ cuối tác giả tả nỗi cô đơn tột cùng của Thúy Vân, cái kết của một bi kịch trong cảnh đoàn viên bẽ bàng, ngang trái:

Em thành vợ của chàng Kim.

Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao.

Giấu đầy đêm nỗi khát khao

Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu!

Câu hỏi: “Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu” nghe thật buồn và không có câu trả lời vì kiếp này nàng đã là vợ chàng Kim nên phải làm tròn nghĩa vụ của một người vợ. Nhưng nàng vẫn đau đáu muốn biết đến bao giờ, đến bao giờ nàng mới được một lần dưới: "vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò" như chị nàng ?”

Một lần nữa xin cảm ơn tác giả Trương Nam Hương đã cho ta thấy một cách công bằng và đầy đủ bi kịch của cuộc đời Thúy Vân là: cũng đau khổ không kém gì Thúy Kiều…!

                                          


(Hình trong bài lấy trên mạng)

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2024

THÚY KIỀU ĐOÀN VIÊN !

+ Khi nói đến hai từ "đoàn viên", ta thường nghĩ tới niềm vui và hạnh phúc. Vậy với Thuý Kiều, sau mười lăm năm lưu lạc, chịu nhiều khổ đau :"Hết hạn nọ đến hạn kia/Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần" (phải bán mình chuộc cha; bị bán 2 lần vào lầu xanh; 2 lần làm con hầu, người ở; bị đánh ghen đến ê chề, mang tiếng hại ch.ết chồng là Từ Hải...). Khi đoàn tụ với gia đình, gặp lại người tình xưa thì nàng có vui, có hạnh phúc không? Chúng ta cùng tìm hiểu xem: 

                        (từ câu 2980 đến câu 3254 trong Truyện Kiều)   

                                                         

...Sau 15 năm lưu lạc, trải qua nhiều khổ đau, cuối cùng Kiều đành chọn cách nhảy xuống sông Tiền Đường để mong giải thoát số phận, nhưng nàng vẫn còn "nặng nợ" trần gian:

"...Oan kia theo mãi với tình,

Một mình mình biết một mình mình hay.

Làm cho sống đọa thác đày,

Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi.

....

Một mình cay đắng trăm đường

Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi!

....

Thôi thì một thác cho rồi,

Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông,

Trông vời con nước mênh mông.

Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang"

....Sau khi được cứu sống và tu cùng Sư Giác Duyên:" Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng", thì gia đình tìm gặp được Kiều, cả nhà đoàn viên :

..." Nhìn xem đủ mặt một nhà

  Xuân già còn trẻ, huyên già còn tươi.

   Hai em phương trưởng hòa hai.

  Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa

   Tưởng bây giờ là bao giờ,

 Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao". (Từ câu 3009- 3014)

Tưởng rằng ngày đoàn viên được gặp lại người xưa sẽ là niềm vui, hạnh phúc của  Kiều nhưng đó lại chính là bi kịch về tinh thần đối với nàng: "Tình nhân lại gặp tình nhân/ Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình!" 

  Là bi kịch khi nàng nghĩ rằng mình không còn xứng đáng với Kim Trọng:

" Riêng lòng đã thẹn lắm thay,

Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi.

....

 Cũng là giở duốc bày trò,

Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi

 Người yêu ta xấu với người, 

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau".  

Đã tự thấy mình "nhơ nhuốc", giờ nàng lại phải đối diện với mối quan hệ "tay ba" hết sức "khó xử", chua xót với Kim Trọng và Thúy Vân thì làm sao có thể coi là niềm vui trọn vẹn? Khi “tiệc đoàn viên” được mở ra, bên cạnh niềm vui, hạnh phúc được đoàn tụ với gia đình, tưởng rằng Thúy Kiều còn có thể tìm lại "cảm xúc" của tình đầu thơ mộng với chàng Kim Trọng. Thế nhưng, qua “đêm tái hợp”, hạnh phúc tưởng như "sờ , nắm" được đó lại thật xa vời:

                           " Chữ trinh còn lại chút này                 

                       Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan

                              Còn nhiều ân ái chan chan,

                         Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi..." 

                           

.. Tại sao lại có cảnh khó xử, trớ trêu như vậy, chúng ta trở về thời gian mười lăm năm trước, thì thấy mối quan hệ giữa Thúy Vân và Kim Trọng chỉ xuất phát khi gia đình Kiều “Gặp cơn binh địa ba đào” đưa đẩy Kiều tới việc phải chọn giữa tình và hiếu và Thúy Kiều đã chọn cách "bán mình chuộc cha". Trước khi ra đi, Kiều đã "trăn trở, vật vã, đau khổ" để trao duyên và là tình đầu của mình với Kim Trọng cho em gái là Thúy Vân: 

"Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim ,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.
Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.
Dạ đài cách mặt, khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan.
Bây giờ trâm gãy bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.
Phân sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"
 (từ câu 721 đến 756).  
 
(P/s:đây chính là đoạn mẹ mình hay ngâm để ru cháu nên là đoạn mình biết từ lúc chưa hiểu nhiều về Kiều )                                                 

+ ...Thúy Vân biết tình cảm của Kiều với Kim Trọng như vậy nên ngày đoàn viên, Vân đã đề cập tới chuyện tình duyên năm xưa của chị, giãi bày cùng chị mọi lẽ, thuyết phục chị và kể rằng tình cảm của Kim Trọng trong mười lăm năm qua vẫn chỉ dành cho Thúy Kiều : "Những là rày ước mai ao/Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình", nên Thúy Vân muốn trả lại chồng của mình là Kim Trọng cho chị gái: 

"...Gặp cơn binh địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào cho em.
Cũng là phận cải duyên kim,
Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao?
Những là rày ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!
Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.
Còn duyên may lại còn người
Còn vầng trăng cũ còn lời nguyền xưa ".(từ câu 3065 đến câu 3074)

Còn đối với Thúy Kiều, cứ ngỡ được đoàn tụ với gia đình là yên ổn. Nhưng thật sự đó lại là một bi kịch đau đớn nhất trong cuộc đời nàng. Nhất là khi Thúy Vân khơi vào nỗi đau tưởng đã "ngủ yên". Ngày đoàn viên, trong tâm trí Kiều, mối tình đẹp đẽ năm xưa với Kim Trọng đã là quá khứ, đã là dĩ vãng:

"Dứt lời nàng vội gạt đi,
Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ?
Một lời tuy có ước xưa,
Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều.  
Nói càng hổ thẹn trăm chiều
Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi."  (từ câu 3077  đến 3082) 

+ Kiều chẳng những từ chối lời tác hợp của Thúy Vân mà khi nghe Kim Trọng phân tích, động viên nên tái hợp dù nàng có  "thế nào đi chăng nữa" :

                        "...Xưa nay trong đạo đàn bà
                      Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.
                          Có khi biến có khi thường.
                    ...Như nàng lấy Hiếu làm Trinh,
                  Bụi nào cho đục được mình ấy vay.
                       Trời còn để có hôm nay,
                Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.
                        Hoa tàn mà lại thêm tươi,
                Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa..."
           ....
                "Chàng rằng : Gắn bó một lời
             Bỗng không cá nước, chim trời lìa nhau.
                     Xót người lưu lạc bấy lâu,
              Tưởng thề thốt nặng nên đau đớn nhiều.
                     Thương nhau sinh tử đã liều,
              Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình.
                    Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
              Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân..."

   Nghe vậy nhưng Kiều vẫn từ chối:

"...Từ rày khép cửa phòng thu
 Chẳng tu thì cũng như tu mới là.
 Chàng dù nghĩ đến tình xa
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ (kỳ).
Nói chi kết tóc xe tơ
Đã buồn cả ruột mà dơ cả đời
....
Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!
Dở dang nào có hay gì,
Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi…
...
Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa
Bấy chầy gió táp mưa sa
Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn
Còn chi là cái hồng nhan,
Đã xong thân thế còn toan nỗi nào."

Như vậy sau mười lăm năm lưu lạc, ngày Thúy Kiều trở về đoàn viên cùng gia đình cũng chính là ngày nàng buông bỏ hai thứ: từ bỏ mối tình cầm sắt với Kim Trọng và từ bỏ khúc đàn định mệnh của đời nàng.
 Quyết định sau cùng của Thúy Kiều là chỉ làm bạn với Kim Trọng chứ không là tình chăn gối vợ chồng::

                   " ...Khi chén rượu khi cuộc cờ,
                    Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên"
    .....          
                    "Một phen tri kỷ cùng nhau
                  Cuốn dây từ đấy về sau xin chừa".

 Nàng nghĩ rằng từ bỏ những điều đó sẽ cho nàng sự bình an trong tâm, để nàng quên đi những gì đau khổ mà nàng đã trải qua trong mười lăm năm đằng đẵng. 
Thật sự việc Kiều được trở về đoàn viên cùng gia đình lại chính là một nỗi trái ngang không dứt đối với cuộc đời nhiều éo le, nhiều đau khổ của nàng: Tình yêu và hạnh phúc đã không còn kể từ khi nàng trao tình yêu của mình cho em gái.
Sau mười lăm năm lưu lạc, ngày đoàn tụ chỉ là trên danh nghĩa còn thực tế thì không thể và không bao giờ có chuyện nàng tái hợp lại với Kim Trọng vì nàng thấy không xứng đáng và về tình chị em cũng không bao giờ làm như thế được. Đó chính là bi kịch là nỗi đoạn trường mà Thúy Kiều; Thúy Vân hay Kim Trọng không thể xử lý được một cách vẹn toàn:

                      "Ngẫm hay muôn sự tại trời
                   Trời kia đã bắt làm người có thân.
                        Bắt phong trần, phải phong trần.
                  Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.
                        Có đâu thiên vị người nào. 
                   Chữ tài, chữ mệnh dồi dào cả hai.
                        Có tài mà cậy chi tài,
                   Chữ tài liền với chữ tai một vần.
                        Đã mang lấy nghiệp vào thân,
                 Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
                       Thiện căn ở tại lòng ta,
                  Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài..."

Nguyễn Du cho Kiều đoàn tụ ta nghĩ đó là cái kết có hậu, là sự kết thúc mười lăm năm lưu lạc của Kiều nhưng đó lại chính là khúc đoạn trường trong cung đàn bạc mệnh, là một kết thúc đầy bi kịch đối với Kiều.  Kiều có thực sự được đoàn tụ cùng gia đình hay nàng sẽ phải sống những ngày khổ đau về tinh thần ngay giữa nhà mình, bên cạnh người yêu mình?
 Như lớp trẻ bây giờ hay nói thì sẽ là : "Nàng đang cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình" !