Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẠO PHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẠO PHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

LÝ NHÂN DUYÊN !

       Lời nhập: Trong bài giảng của mình, một Sư cô có nói rằng : Nghe, hiểu về Phật pháp là để buông bỏ, chứ không phải để tích lũy kiến thức hiểu biết về Phật pháp. Và con đường mà Đức Phật chỉ ra là mình phải đi mới tới chứ không phải chỉ đứng nhìn.  

                                          

                                           (Hình lấy trên Internet)

                             TÌM HIỂU CƠ BẢN VỀ ĐẠO PHẬT (2)

Đức Phật dạy muốn đạt giác ngộ, chúng ta phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế hoặc Lý Nhân Duyên.   

Cả hai vấn đề đó đều có sự tương đồng về nguyên tắc cơ bản là nguyên nhân và hậu quả hay hành động và hậu quả. Đức Phật ví dụ:  ngọn lửa của ngọn đèn dầu cháy là do dầu và tim đèn. Khi có dầu và tim đèn, ngọn lửa của đèn cháy. Nếu hai thứ trên không có thì đèn tắt. Cho nên, ngọn lửa chẳng phải thường còn và cũng chẳng phải độc lập.

*/ Hiểu về lý nhân duyên : Nhân là phần chính có năng lực phát sinh, duyên là phần phụ để hổ trợ cho nhân phát sinh ra sự vật.  Khi nhân duyên hết sự vật ấy sẽ không còn, hiểu được như thế chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra mọi sự tan hợp trên đời đều do nhân duyên mà ra. Vì vậy: lý nhân duyên chi phối tất cả  mọi sự vật của cuộc sống. 

*/Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục, có liên quan mật thiết với nhau.   Nó chuyển mãi, vừa làm quả cho nhân trước vừa làm nhân cho quả sau.   

Tóm lại: Lý nhân duyên cho chúng ta thấy mọi sự vật hòa hợp với nhau mà thành, khi nhân duyên không còn đủ chúng tự nhiên thay đổi hay tan rã. Sự vật đều không tự nhiên có nên không có thật, hiểu được như thế chúng ta sẽ dễ dàng nhìn đời rằng việc tan hợp đều do nhân duyên. Nhờ đó tích cực tạo cho mình một đời sống an lạc, tự tại và giải thoát.

 + Mười hai nhân duyên gồm :Vô minh, Hành, Thức (tâm), Danh Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái,  Hữu, Thủ, Sanh (sầu, ưu, bi, khổ)  và lão tử (già , bệnh, ch.ết).

                         

  + Hiểu cơ bản về 12 nhân duyên: 

1- Vô minh : là sự mê mờ, cuồng si của tâm thức hay là sự không hiểu biết như thật về hiện hữu là duyên sinh, vô thường và không có một tự thể độc lập, bất biến.

 Do vô minh nên mới tạo nghiệp thiện hay ác để tiếp nối vòng luân hồi sanh tử.

2- Hành: là động lực, ý chí hành động tạo tác của thân, miệng và ý.

3- Thức : là tri giác của con người về thế giới thông qua các cơ quan chức năng như mắt, tai, mũi , lưỡi , thân  và ý .

4- Danh sắc: Sắc bao gồm những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh, bao gồm những cái không có hình tướng.

Nói cách khác: Sắc là phần vật lý và sinh lý, danh là phần tâm lý. Với con người, sắc là cơ thể vật chất, các giác quan và chức năng của chúng; danh là các tâm phụ thuộc như xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.

5- Lục nhập : là sự tương tác giữa 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và đối tượng của chúng là 6 trần (hình thể, âm thanh, hương vị, mùi vị, xúc chạm và ý tưởng - pháp).

6- Xúc: là sự gặp gỡ, tiếp xúc, giao thoa giữa các căn (chủ thể) và trần (đối tượng). Nói rõ hơn, xúc chính là sự tiếp xúc giữa con người và thế giới thông qua 6 cơ quan tri giác. 

7- Thọ : là sự cảm thọ hay là các phản ứng tâm lý phát sinh khi mắt tiếp xúc với hình thể, tai tiếp xúc với âm thanh... ý tiếp xúc với ý tưởng.

Cảm thọ có ba loại: cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ trung tính (phi khổ phi lạc). Ðây là chất liệu mà con người thường lấy để xây dựng những giá trị gọi tên là hạnh phúc và khổ đau, bất hạnh. Thực ra, chúng là do duyên sinh, luôn thay đổi, không hề cố định.

8- Ái :  đó là sự vướng mắc, yêu thích, tham luyến; gồm có dục ái, sắc ái và vô sắc ái.

Do các thọ mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối với khổ thọ, ưu thọ thì ghét.

9- Thủ : Gọi đủ là chấp thủ: sự kẹt vào, bám víu, đeo chặt của tâm thức vào một đối tượng.

10- Hữu : là tiến trình tương duyên để hình thành gồm dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.

11- Sinh: là sự ra đời, tạo nên, xuất hiện. Sinh ở đây không phải là sự sinh ra em bé, mà là sự thành tựu các bộ phận cấu thành (năm uẩn), thành tựu các xứ (các cơ quan tri giác và chức năng của chúng).

12- Lão tử : là sự suy nhược, tàn lụi, già , tan rã, tiêu mất, tử vong. Với sinh mạng con người, lão tử được biểu hiện dưới các hiện tượng: răng lung, tóc bạc, da nhăn, các cơ quan tri giác suy yếu và ch.ết.                   

(Nguồn để viết: Nền tảng của Đạo Phật do Tiến sĩ Peter D. Santina - Tỳ khưu Thích Tâm Quang dịch và các bài viết có liên quan -trang Bình An Sơn )

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2023

SƯ MINH TUỆ- TU KHỔ HẠNH !

                                                                       
         
*/Hôm trước, mình xem youtube vô tình thấy một Vloger đưa hình ảnh của Sư Minh Tuệ (tu khổ hạnh). Sư kể là đã đi bộ từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam. Hành trang của Sư là một cái bình bát làm từ lõi nồi cơm điện cũ, cưa ngắn lại (dùng để nhận thức ăn khất thực được), kim chỉ và một miếng vải cũ nhặt được trên đường (khi nào dừng chân nơi mát mẻ sư sẽ khâu đắp thay mảnh vải bị rách hay quá cũ trên y phục). Sư chỉ ăn ngày một bữa trước giờ ngọ là đồ chay và uống nước của người dân cúng dường. Sư không nhận tiền và cũng không nhận nhiều hơn một suất ăn. (không ăn quá no và không để dành thức ăn cho hôm sau mà khất thực hôm nào thì ăn hôm đó, nếu hôm nào không ai cúng dường thức ăn Thầy sẽ nhịn nhưng Thầy nói là chưa có bữa nào phải nhịn). Tối Thầy sẽ ngủ ở nghĩa địa, nhà hoang, hoặc dưới gốc cây và không ngủ một nơi quá 3 đêm, Thầy chỉ ngồi ngủ chứ không nằm. Khi được hỏi tại sao lại ngủ ở nghĩa địa và ngủ ngồi thì Thầy giải thích là để chế ngự nỗi sợ hãi và không tham đắm vào việc ngủ. Khi được hỏi tại sao Thầy phải tu theo hạnh đầu đà mà không tu trong Chùa thì Thầy giải thích đơn giản là : Ví dụ ta cần đến một điểm nào đó như siêu thị chẳng hạn, thì có nhiều con đường để đến đó, có đường ngắn, tới nhanh mà gập ghềnh khó đi, có đường đi thông thoáng nhưng dài, hay có đường vừa dài vừa khó đi... thì cách tu của Thầy cũng là một con đường để đi đến sự thoát khổ, không luân hồi.

Nghe câu chuyện của Thầy, mình thấy lạ và ngưỡng mộ (sự chịu khổ) nên tìm hiểu thêm về Thầy thì được biết Thầy trước đây là một cán bộ địa chính xã thuộc tỉnh Khánh Hòa. Năm Thầy 36 tuổi Thầy vào Chùa đi tu 2 năm (năm 2023 Thầy 42 tuổi) , sau đó thấy việc tu ở Chùa không phù hợp với bản thân nên Thầy tập tu theo Hạnh đầu đà (tu khổ hạnh) với mong muốn được giải thoát, không luân hồi. Thầy không nhận đệ tử, tu tập một mình để thực hành thoát khổ, đi bộ bằng chân trần để hiểu đời, hiểu mình và buông bỏ tham, sân, si, ít muốn, biết đủ.

Khi thấy hình ảnh của Sư Minh Tuệ như vậy, những người phàm phu (là người bình thường) như mình thấy thương Thầy, rồi nghĩ xa hơn là gia đình, cha, mẹ Thầy khi thấy Thầy như vậy liệu có an lòng, rồi mình lại tự hỏi: tại sao Thầy lại phải tu khổ hạnh như vậy.... Nhưng xem nhiều clip về Thầy, thấy hành trang của Thầy là nụ cười luôn nở trên môi và thấy Thầy thật an lạc thì nghĩ là Thầy đã hạnh phúc khi được làm những gì Thầy đang làm. Mình thấy Thầy khổ, biết đâu Thầy lại thấy chúng ta đang khổ cũng nên.
                                                       
         + Sư Thầy Minh Tuệ dừng lại bên đường, vui vẻ trả lời các câu hỏi của một Youtuber:

        
  + Trên đường tu tập ...vạn dặm của Thầy.
     ( Kính chúc Sư Thầy nhiều sức khỏe để tu thành tựu đạo quả) :               

                         (Hình ảnh Sư Thầy và các tài liệu để viết bài lấy trên Internet)

*/ Vậy tu theo Hạnh đầu đà là gì ?

Hạnh đầu đà là một trong những phương pháp tu khổ hạnh để trợ duyên cho sự thoát ly khỏi tham dục, là phương tiện quý báu tôi luyện thân tâm, trừ bỏ phiền não trần cấu. Thời Đức Phật còn tại thế, rất nhiều đệ tử của Ngài đã tu theo 13 hạnh đầu đà mà chứng đạo.

Như chúng ta đã biết, đạo Phật là trung đạo. Đức Phật cũng nhờ tránh xa hai cực đoan dục lạc và khổ hạnh mà thành tựu đạo quả. Sau khi giác ngộ, trên bước đường hoằng hóa,Thế Tôn vẫn nêu cao lập trường trung đạo. Tuy vậy, những ai kham nhẫn được với sự thanh bần, thực hành hạnh đầu đà đến trọn đời vẫn được Thế Tôn ca ngợi. Điều đáng chú ý là hạnh đầu đà về một vài phương diện khá giống với khổ hạnh của ngoại đạo nhưng mục đích hoàn toàn khác. 

 Có 13 (có nơi ghi 12) hạnh đầu đà:

1. Y phục làm bằng những mảnh vải rách.

2. Chỉ dùng ba y.

3. Khất thực mà ăn.

4. Chỉ ăn một bữa vào giờ trưa.

5. Không ăn quá no.

6. Không giữ tiền bạc.

7. Sống độc cư.

8. Sống trong nghĩa địa.

9. Sống dưới gốc cây.

10. Sống ngoài trời.

11. Không ở cố định, thường du hành.

12. Ngồi ngủ, không nằm ngủ.

13. Chỉ dùng bình bát. 

*/ Lời bàn: Thấy thực tế việc tu hành của Thầy Minh Tuệ và lý thuyết về Hạnh đầu đà, nhìn lại bản thân mới thấy mình còn quá nhiều Tham- Sân- Si. (ăn không chỉ ngày 3 bữa mà còn ra vào ăn vặt chưa tính. Ngon miệng thì ăn quá no rồi than là : No quá. Quần áo thì treo hết chỗ nay sang chỗ khác, có khi mua về chỉ để ...ngắm. Tiền thì có ít muốn nhiều...Ở trong nhà có 2 -3 người mà vẫn thấy ...buồn. Ngủ thì mê đắm không muốn dậy, nằm ngủ mà phải yên tĩnh nọ kia, rồi thì đóng kín cửa mấy lớp vẫn sợ ...ma. Nếu ra nghĩa địa hay nhà hoang ngủ chắc sợ vãi linh hồn).

      Biết so sánh vậy rồi thì mình phải cố gắng tập: "ít muốn, biết đủ" ! 

                                                 

                                                     (Hoa sứ nhà nàng Ju)

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2023

BỐN SỰ THẬT !

                                                         

  

*/ Lời nhập: Cách đây nhiều năm, mình chưa hiểu nhiều về Đạo Phật , chưa nghe giảng pháp bao giờ. Gần nhà có Chùa, vài chị quen biết trong xóm là phật tử, tối nào họ cũng ra Chùa nghe Thầy trụ trì đọc kinh, giảng pháp. Ngày lễ lớn thì họ ra Chùa làm công quả...Mình lúc đó đang quay cuồng với con cái, cơm áo, gạo tiền...(còn nhiều hỉ, nộ, ái, ố),rồi việc ở cơ quan nọ kia nên chưa nghĩ đến việc ra Chùa nghe kinh, kệ. Một hôm nọ, có chị bạn trong xóm hỏi : em đã quy y chưa, mình : dạ chưa, chị ấy bảo để chị đưa em ra Chùa thưa với Thầy trụ trì cho em quy y, thấy chị ấy dễ thương, nhiệt tình nên mình: dạ vâng! Hồi đó nghe từ quy y nhưng chưa hiểu nghĩa là quy ai (híc). Hai lần Thầy hẹn ra Chùa quy y cùng với nhiều người khác nhưng cả hai lần mình đều vì công việc không thể bỏ.(giờ thì hiểu là duyên chưa tới, khi đó trong đầu mình chưa có chút hiểu biết cơ bản nào về Phật, Pháp, Tăng). Rồi chuyện quy y bỏ lửng ở đó, cho tới giờ cũng chưa khởi duyên lại vì nghĩ cả 5 giới mình chưa giữ được giới nào (híc ). Rồi mình nghỉ hưu, có nhiều thời gian, mở nghe mấy Sư Thầy, Sư Cô trẻ giảng pháp, rất rõ ràng mạch lạc và dễ hiểu, rồi sau đó tối nào trước khi ngủ mình cũng mở nghe Thầy Pháp Hòa giảng pháp, sau thì nghe Sư Cô Giác Lệ Hiếu giảng về những bài học cơ bản về đạo Phật. Nghe, hiểu và mình thấy có nhiều điều hay, như một môn triết học và mình tìm đọc, nghiên cứu những bài viết đơn giản để hiểu biết thêm một lĩnh vực khác của cuộc sống. Còn ăn chay (giảm chất béo là chính) thì từ 4 ngày/tháng mình tăng lên 6 ngày và dừng. Hôm nọ có chị bạn trong xóm hỏi đã tăng ngày ăn chay lên chưa, mình nói chưa, chỉ bảo vậy là học mà không lên lớp à ?!Mình chịu ở lại lớp thôi, chứ lên lớp mà theo không kịp bị bỏ lại thì cũng vậy!hì! 

                           TÌM HIỂU VỀ ĐẠO PHẬT ! (1)        

*/Phật giáo là tôn giáo vô thần, không công nhận có một đấng tối cao chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho ai, mà trong cuộc sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân - Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc và ngược lại.

Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại. Chủ thuyết của Đạo Phật là :Tránh làm những điều ác-  Làm những điều thiện- Tu dưỡng Tâm trong  sạch .

                                                  

Bài học đầu tiên:

Giáo lý cơ bản của đạo Phật có 2 vấn đề quan trọng, đó là Lý Nhân duyên và Tứ Diệu đế (4 chân lý hay còn gọi là bốn sự thật).Tứ Diệu Đế được chia làm hai nhóm; nhóm thứ nhất gồm khổ và nguyên nhân của khổ, và nhóm thứ hai là chấm dứt khổ và con đường đi đến việc chấm dứt khổ.

*/Có hai thái cực mà người tu đạo nên tránh: một là lao mình vào khoái lạc nhục thể, hai là hành hạ thân xác cho hao mòn (khổ hạnh). Cả hai con đường đều đưa tới sự phá sản của thân tâm. Con đường mà Đức Phật đã tìm ra là con đường trung đạo, tránh được hai thái cực ấy và có thể đem đến trí tuệ, giải thoát và an lạc. 

Con đường đó là con đường Bát chánh đạo: nhận thức chân chính, tư duy chân chính, ngôn ngữ chân chính, hành động chân chính, sinh kế chân chính, chuyên cần chân chính, niệm lực chân chính và định lực chân chính. Đức phật đã theo con đường bát chánh đó và đã thực hiện được trí tuệ, giải thoát và an lạc.
                                                                                       
Sở dĩ gọi là chánh đạo vì con đường này không phải là con đường trốn tránh đau khổ mà là con đường đối diện trực tiếp khổ đau để diệt trừ khổ đau, là con đường của sự sống tỉnh thức, vì vậy chánh niệm là khởi điểm. Có chánh niệm thì sẽ có chánh định, nghĩa là định lực có tác dụng đưa tới trí tuệ. (Chánh niệm đơn giản là khả năng nhận thức được mình đang làm gì và đang ở đâu, mà không phản ứng quá mức hoặc choáng ngợp với những điều xảy ra xung quanh). Nhờ có niệm lực và định lực chân chính thì nhận thức, tư duy, ngôn từ, hành động, sinh kế và sự chuyên cần cũng sẽ đi vào chánh đạo. Trí tuệ được phát sinh sẽ giải thoát tất cả mọi ràng buộc khổ đau và làm phát sinh nguồn an lạc chân chính.
 
*/ Có bốn sự thật mà người tu phải công nhận: khổ đau; nguyên nhân của các khổ đau; sự chấm dứt khổ đau và con đường đi tới sự chấm dứt khổ đau. Bốn sự thật ấy là bốn sự thật mầu nhiệm, gọi là tứ diệu đế (khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế). 

 1/Sự thật thứ nhất là Khổ đau (khổ đế):
sinh, già, bệnh và ch.ết là khổ; buồn, giận ghen, tức, lo lắng, sợ hãi và thất vọng là khổ; chia cách người thân yêu là khổ, chung đụng với người mình ghét bỏ là khổ, tham đắm và kẹt vào năm uẩn là khổ.
(Năm uẩn là năm yếu tố tạo thành con người hay nói cách khác: con người là một hợp thể của năm yếu tố), gồm: Sắc uẩn là yếu tố sinh lý - vật lý; Thọ uẩn  là yếu tố cảm giác; Tưởng uẩn là yếu tố tri giác,; Hành uẩn là yếu tố tâm lý hoạt động ngoài Thọ và Tưởng là những tâm lý tạo động lực đi tới tạo nghiệp và kết quả của nghiệp như ước muốn, quyết định... thuộc ý chí còn gọi là Tư; Thức uẩn  là yếu tố nhận thức.)
 Lý thuyết năm uẩn phân tích con người là hợp thể của yếu tố sinh lý, vật lý, tâm lý để làm nổi bật tính vô ngã, biến động, bất an và duyên sinh của con người và vũ trụ. Trên cơ sở phân tích quán chiếu năm uẩn sẽ đem đến trí tuệ và giải thoát khổ đau. Đức Phật dạy: "Ai không chấp trước, không tham luyến, không suy tưởng, không hoan hỷ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức... người ấy giải thoát khỏi ác ma." (Kinh Tương Ưng III).

2/Sự thật thứ hai là nguyên nhân của khổ đau (Tập đế):
 Những khổ đau của con người là do vô minh, là không thấy rõ bản chất của sự sống. Do vô minh nên chấp ngã, chấp vào cái chủ thể bất biến; do chấp ngã mà có tham ái, sân hận, si mê; do tham, sân, si mà có sợ hãi, thất vọng, vấp ngã và tai nạn. 
 ( Vô minh: Là tình trạng tâm thức không thấy sự vật "như nó là" , cho ảo giác là sự thật vì vậy sinh ra khổ). 

 3/Sự thật thứ ba là sự chấm dứt khổ đau (diệt đế):
Đó là trí tuệ, là hiểu biết, là nhận thức được sự thật về bản thân và về cuộc đời. Trí tuệ này, cái thấy này đưa lại sự chấm dứt của mọi sầu đau và làm phát sinh niềm an lạc.

 4/Sự thật thứ tư là con đường diệt khổ (Đạo đế):
 Đây là phần quan trọng nhất trong Tứ diệu đế, vì khi biết rõ đau khổ, nguyên nhân của đau khổ, mong muốn được thoát khổ để đạt đến cảnh giới an vui nhưng nếu không có phương pháp hiệu nghiệm để thực hiện ý muốn ấy thì không giải quyết được vấn đề và càng thêm đau khổ. Đức Phật hướng dẫn cho mọi người từng bước trên con đường thực hiện diệt khổ: Đó là con đường Bát chánh đạo được nuôi dưỡng bằng nếp sống tỉnh thức hàng ngày, đó là chánh niệm (chánh niệm là nhận thức đầy đủ, không phán xét, biết rõ đều gì đang có mặt, đang xảy ra, là cách sống tỉnh thức với giây phút hiện tại). Chánh niệm đưa tới Định và Tuệ, có năng lực giải thoát con người khỏi mọi niềm đau và đem lại mọi an vui. 
(ĐỊNH: là chỉ cho tâm không loạn động, dời đổi.TUỆ là cái thấy biết như thật không mê lầm. Sự thấy biết phù hợp với chân lý, phù hợp với chánh lý cũng gọi là Tuệ).

  (Bài viết là để tự nghiên cứu, nguồn tư liệu về Phật giáo lấy trên internet và được rút gọn cho dễ hiểu  )